Thứ ba 27/09/2022 20:23
vong-tay-cong-doan

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam: Phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Nghiên cứu - TS. PHẠM VĂN GIANG - Học viện Chính trị khu vực III

Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng GCCN trong tình hình mới.
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam: Phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
Hiện quy mô công nhân kỹ thuật cao ở nước ta còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong ảnh: Công nhân dây chuyền sản xuất chi tiết bộ lọc khí ở Khu công nghiệp Nomura Hải Phòng. Ảnh: Vũ Dũng.

1. Sau 35 năm đổi mới, GCCN nước ta lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu

Theo số liệu thống kê, hiện tổng số công nhân làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta là 14.817,8 nghìn người, chiếm 15,36% dân số và 26,76% lực lượng lao động xã hội. Trong đó, có 1.126,7 nghìn công nhân trong doanh nghiệp Nhà nước; 8.977,2 nghìn công nhân trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước; và 4.714,0 nghìn công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, tỷ lệ công nhân đã qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ là 22,22%; theo các cấp trình độ, tỷ lệ công nhân có trình độ đại học trở lên là 9,76%; cao đẳng là 3,68%; trung cấp là 5,35% và sơ cấp nghề là 3,43%. Số liệu cho thấy quy mô công nhân kỹ thuật cao ở nước ta còn nhỏ bé so với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế. Nếu trình độ của công nhân nước ta không được cải thiện sẽ dẫn đến nguy cơ chúng ta sẽ bị thua ngay trên “sân nhà”.

Về ý thức chính trị, tư tưởng và kỷ luật lao động, do ra đời và phát triển trong một nước nông nghiệp lạc hậu; tâm lý, thói quen và tác phong lao động gắn liền với nền sản xuất nhỏ còn in đậm trong một bộ phận GCCN nước ta. Nhiều NLĐ mới gia nhập GCCN từ nông dân, họ còn trẻ về tuổi đời, ý thức lập trường giai cấp còn hạn chế. Ngoài ra, còn có một bộ phận công nhân hoài nghi, không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, mơ hồ về lập trường giai cấp.

2. Phải xây dựng GCCN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng GCCN hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; theo chúng tôi, trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện tốt những nội dung sau đây:

Thứ nhất, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức

Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, cần chú trọng phát triển những ngành nghề sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế để phát triển nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thu hút đầu tư vào các ngành, nghề có khoa học công nghệ cao, tạo điều kiện để công nhân nâng cao trình độ.

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam: Phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Sau 35 năm đổi mới, giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu. Trong ảnh: Giờ tan ca của công nhân Công ty PouYuen, Khu công nghiệp Tân Tạo (quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh). Ảnh: Duy Văn.

Thứ hai, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề, góp phần từng bước trí thức hóa GCCN

Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Đưa các nội dung của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào chương trình giảng dạy để sau khi ra trường NLĐ có thể được sử dụng ngay vào quá trình lao động sản xuất.

Đẩy mạnh phối hợp, liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo. Hướng đào tạo gắn với việc làm, đào tạo với sử dụng, đào tạo theo nhu cầu xã hội. Để làm được điều này, cần có dự báo chính xác về nhu cầu nhân lực, từ đó đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp trong đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, tránh lãng phí.

Tăng cường đầu tư để đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Mở các trường đào tạo đội ngũ công nhân trẻ, tạo nguồn nhân lực bổ sung phong phú, có chất lượng, đáp ứng không chỉ nhu cầu sản xuất hiện tại mà còn chuẩn bị cho những ngành nghề mới trong quá trình hội nhập.

Thứ ba, đổi mới nội dung, tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN

Giáo dục cho công nhân khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiểu được rằng, làm việc ở khu vực kinh tế nào cũng có giá trị như nhau. Công nhân cần tham gia vào việc phát triển các loại hình doanh nhiệp, lao động có kỷ luật, kỹ thuật, đạt năng suất và hiệu quả cao nhằm mang lại lợi ích cho bản thân và gia đình, góp phần vào sự phát triển.

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam: Phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Cần đẩy mạnh phối hợp, liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo. Hướng đào tạo gắn với việc làm, đào tạo với sử dụng, đào tạo theo nhu cầu xã hội. Trong ảnh: Sinh viên Trường Cao đẳng Nghề Việt Nam - Singapore (Bình Dương) thực hành tại phòng Fablab. Ảnh: Quang Tám.

Tiếp tục xây dựng, kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp của GCCN, mà trước hết là “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, tập thể công nhân”.

Đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cần hoàn thiện tổ chức cơ sở Đảng theo hướng gắn tổ chức cơ sở Đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, chú trọng kết nạp đảng viên trong công nhân, nhất là trong những doanh nghiệp chưa có tổ chức Đảng, chưa có đảng viên.

Xây nhà ở cho công nhân khó khăn: Công đoàn và công nhân cùng chung tay Xây nhà ở cho công nhân khó khăn: Công đoàn và công nhân cùng chung tay

Nói về hoạt động góp tiền giúp đồng nghiệp khó khăn do Công đoàn phát động, chị Nguyễn Thị Màu - Tổ trưởng tổ Chặt ...

Kế hoạch tổ chức đại hội công đoàn các cấp tiến tới Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam Kế hoạch tổ chức đại hội công đoàn các cấp tiến tới Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam

Ngày 03/03/2022, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch số 179/KH-TLĐ về việc tổ chức đại hội công đoàn các cấp tiến tới ...

“Mỗi đơn vị xây dựng nhà ăn ca tự chọn, Công đoàn hỗ trợ 50 triệu đồng” “Mỗi đơn vị xây dựng nhà ăn ca tự chọn, Công đoàn hỗ trợ 50 triệu đồng”

Ông Vương Duy Khánh – Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (gọi tắt là TCT) cho biết, mỗi đơn ...

Chia sẻ
In bài viết

Tin cùng chuyên mục

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Emagazine -

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Lợi dụng khó khăn về tài chính của công nhân, lao động (CNLĐ) trong hoàn cảnh dịch bệnh thời gian qua, cùng sự thiếu hiểu biết của người lao động (NLĐ) về các quy định, trình tự vay và cho vay của các tổ chức tín dụng chính thống, tội phạm cho vay “tín dụng đen” (TDĐ) bằng nhiều thủ đoạn, phương thức đã giăng bẫy, lôi kéo NLĐ tham gia vay lãi cao, gây ra những hệ lụy nặng nề. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể trong đó có tổ chức Công đoàn phải có các giải pháp căn cơ, bền vững để hạn chế, tiến tới xóa bỏ loại hình tín dụng bất hợp pháp này trong CNLĐ.

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

Nghiên cứu -

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

“Tín dụng đen” (TDĐ) nói chung, TDĐ trong công nhân lao động (CNLĐ) những năm qua là thực trạng nhức nhối, diễn ra ngày càng trắng trợn, tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích nguyên nhân, nhận diện phương thức hoạt động của TDĐ và kiến nghị một số giải pháp góp phần xóa bỏ vấn nạn này.

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu -

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu này được tiến hành trên 327 đối tượng công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử và 52 nhân viên hành chính văn phòng tại một số nhà máy sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử.

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, ổn định và tiến bộ là một chủ trương lớn mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và quyết tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết này, ngày 20/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt chủ trương của Đảng, các cấp Công đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động hiệu quả thúc đẩy thực hiện quyền của lao động nữ (LĐN).

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Nghiên cứu -

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam từ khi đổi mới. Quan hệ lao động (QHLĐ) do nhiều chủ thể tương tác với nhau thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ: cơ chế hai bên và cơ chế ba bên.

Đọc thêm

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Nghiên cứu -

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Qua một năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02-NQ/TW), LĐLĐ tỉnh Lào Cai đã có nhiều cách làm mới phù hợp với tình hình của địa phương, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động của cấp ủy, chính quyền và các cấp công đoàn, đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Khu vực phi chính thức bao gồm nền kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức. Đây là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh (SXKD) không đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước (không có giấy phép kinh doanh), không có tư cách pháp nhân, thực hiện SXKD ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán, cung cấp hoặc trao đổi. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức”.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Nghiên cứu -

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Đại dịch Covid-19 đặt ra thêm nhiều vấn đề mới cho người lao động (NLĐ) ngành Dệt may và Da giày, các lựa chọn thay thế việc làm tốt bị hạn chế; phụ nữ phải đối mặt với gánh nặng gia tăng trong công việc, quan hệ gia đình; các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tâm thần, bạo lực trên cơ sở giới… Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ hơn những tác động của đại dịch đến NLĐ ngành Dệt may và Da giày.

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Emagazine -

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Do thiếu thông tin về cách tính lương sản phẩm nên một bộ phận cán bộ công đoàn còn khó khăn trong thương lượng để cải thiện lương cho NLĐ.

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Nghiên cứu -

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Với sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn, sự tham gia hưởng ứng tích cực của người sử dụng lao động (NSDLĐ), công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), phong trào đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động (NLĐ) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Nghiên cứu -

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, lực lượng lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp đã mang theo tác phong làm việc chưa có tính kỷ luật cao; hành vi không tuân thủ hệ thống quản lý ATVSLĐ tại nơi làm việc thường xuyên xảy ra. Đây là một vấn đề lớn cần kiên trì quan tâm giải quyết.

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Công đoàn -

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ trên phạm vi cả nước nói chung và tại các đô thị, thành phố lớn nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Bài viết sau đây chỉ ra một số nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại các đô thị, thành phố lớn ở nước ta.

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Kiểm soát tài chính công đoàn là chức năng quan trọng của quản lý tài chính công đoàn với việc thiết lập tổ chức thực hiện trong các cấp công đoàn các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định phù hợp, đảm bảo ngăn ngừa, phát hiện xử lý các rủi ro về tài chính nhằm mục tiêu quản lý tài chính công đoàn chặt chẽ, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu -

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu về đối thoại và thương lượng tập thể (ĐT&TLTT) ý có nghĩa lớn trong quan hệ lao động (QHLĐ) hiện nay - đặc biệt là trong khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI - nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Bài viết dưới đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐT&TLTT tại doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (2020-2022), phản ánh tiếng nói của công đoàn và người lao động (NLĐ) về vấn đề này từ đánh giá của người được khảo sát.

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Việc làm -

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Bài viết làm rõ thực trạng việc làm của người lao động (NLĐ) trước tác động của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho NLĐ, từ đó tạo tiền đề để phục hồi và phát triển nền kinh tế trong thời gian tới.

Xem phiên bản di động