Thứ ba 27/09/2022 21:40
vong-tay-cong-doan

Vai trò của Công đoàn trong hướng dẫn, tư vấn giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

Nghiên cứu - NCS. PHẠM VĂN TÙNG - Phó Giám đốc Nhà Xuất bản Lao động

Những năm qua, Tổng LĐLĐ Việt Nam luôn đặt trọng tâm đến việc đại diện, chăm lo lợi ích đoàn viên, người lao động (NLĐ), coi đây là nhiệm vụ cốt lõi nhằm tạo ra sức hút để NLĐ tham gia. Bài viết dưới đây dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề tài “Quan hệ lao động (QHLĐ) trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”, nghiên cứu trường hợp tại KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội, mô tả một phần vai trò của Công đoàn trong tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ) với NLĐ tại doanh nghiệp.
Vai trò của Công đoàn trong hướng dẫn, tư vấn giao kết và thực hiện hợp đồng lao động
Vai trò của Công đoàn trong hướng dẫn, tư vấn giao kết và thực hiện hợp đồng lao động. Nguồn: Tapchitaichinh.vn

1. Thực trạng ký kết HĐLĐ tại doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ luật Lao động, HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ, trước khi nhận NLĐ vào làm việc thì NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ với NLĐ. Hiện nay, có 02 loại hình HĐLĐ để NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận, ký kết, đó là HĐLĐ không xác định thời hạn và HĐLĐ xác định thời hạn.

Bảng 1: Tương quan về loại hình HĐLĐ được ký kết

giữa các loại hình doanh nghiệp

Đơn vị tính: Phần trăm

Tiêu chí

Tính chung

Theo ngành sản xuất

Sản xuất điện tử

Sản xuất, lắp ráp cơ khí

Sản xuất, in ấn bao bì

- Không ký hợp đồng

4.3

3.3

5.9

5.5

- Từ 12 tháng đến 36 tháng

45.1

46.9

43.5

42.2

- Dưới 12 tháng

11.2

9.9

15.3

11.0

- Không xác định thời hạn

37.8

39.1

29.4

41.3

- Không biết

1.6

0.8

5.9

0.0

Tổng

100

100

100

100

Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của đề tài.

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ NLĐ ký kết loại hình HĐLĐ xác định thời hạn ở đây rất cao, chiếm 56.3%, trong khi loại hình HĐLĐ không xác định thời hạn chỉ chiếm có 37.8%. Trong số những người ký kết HĐLĐ xác định thời hạn, loại hợp đồng có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm được doanh nghiệp ký nhiều nhất, với 45.1%.

Đáng chú ý, vẫn có đến 4.3% người trả lời cho biết mình không ký HĐLĐ với doanh nghiệp. Đặc biệt hơn nữa, có 1.6% số người trả lời cho biết mình không biết việc có ký HĐLĐ với doanh nghiệp hay không. Điều này cho thấy, tuy chiếm một tỷ lệ không nhiều nhưng vẫn có một bộ phận NLĐ không coi trọng việc ký kết HĐLĐ. Có thể những NLĐ này không nắm bắt được hết tầm quan trọng của HĐLĐ. Chính vì thế, Công đoàn cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc tuyên truyền để NLĐ hiểu biết về tầm quan trọng của việc ký kết HĐLĐ, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho NLĐ trong việc ký kết HĐLĐ.

Xét mối tương quan giữa loại hình hợp đồng với tính chất công việc, ở lĩnh vực sản xuất, in ấn bao bì được doanh nghiệp ký HĐLĐ không xác định thời hạn chiếm tỷ lệ cao nhất, với 41.3%, trong khi nhóm doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, tỷ lệ này chỉ chiếm 39.1% và nhóm doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp cơ khí, chiếm 29.4%. Còn đối với loại hình hợp đồng xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng, ở nhóm doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử lại chiếm tỷ lệ cao hơn, với 46.9%; tiếp đến là nhóm doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp cơ khí và sản xuất, in ấn bao bì, lần lượt là 43.5% và 42.2%.

Có thể thấy, tùy thuộc vào tình chất công việc, quy mô doanh nghiệp, NSDLĐ lựa chọn loại hình ký HĐLĐ với NLĐ cho phù hợp.

Bảng 2: Tương quan về thực hiện công việc theo HĐLĐ

giữa các loại hình doanh nghiệp

Tiêu chí

Tính chung

Theo ngành sản xuất

Sản xuất điện tử

Sản xuất, lắp ráp cơ khí

Sản xuất, in ấn bao bì

- Không làm đúng công việc

3.9

3.3

4.7

4.6

- Làm đúng công việc

84.4

84.8

82.4

85.3

- Thỉnh thoảng làm công việc khác

11.7

11.9

12.9

10.1

Tổng

100

100

100

100

Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của đề tài.

Từ bảng số liệu trên, có thể thấy, trong quá trình thực hiện HĐLĐ, hầu hết các bên đều cơ bản tuân thủ công việc phải làm theo hợp đồng đã ký kết, điều này góp phần ổn định về QHLĐ trong doanh nghiệp. Có đến 84.4% số người trả lời cho rằng mình được làm đúng công việc theo HĐLĐ, 11.7% nhận xét thỉnh thoảng phải làm công việc khác, 3.9% không làm đúng công việc. Kết quả này phản ánh đúng thực tế diễn ra, khi những năm vừa qua, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều doanh nghiệp phải áp dụng biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nên phần nào ảnh hưởng đến việc làm của NLĐ.

2. Vai trò của Công đoàn tham gia ký kết HĐLĐ tại doanh nghiệp

Theo quy định, CĐCS có trách nhiệm hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện HĐLĐ, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động. Như vậy, CĐCS có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đỡ NLĐ thỏa thuận với NSDLĐ về công việc, thời hạn của hợp đồng, mức lương mình được hưởng, chế độ nâng bậc, nâng lương, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trang bị bảo hộ lao động, điều kiện làm việc và các chế độ phúc lợi khác để NLĐ lựa chọn. Nhằm tìm hiểu vấn đề này, tác giả đã đưa ra các tiêu chí khác nhau, với mức độ từ thấp đến cao để NLĐ nhận xét, đánh giá.

Bảng 3: Công đoàn hỗ trợ NLĐ ký kết HĐLĐ tại doanh nghiệp

Vai trò của Công đoàn trong hướng dẫn, tư vấn giao kết và thực hiện hợp đồng lao động

Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của đề tài.

Tỉ lệ NLĐ nhận xét, đánh giá về mức độ của cán bộ công đoàn trong tham gia, hỗ trợ NLĐ khi ký kết HĐLĐ tại doanh nghiệp là tương đối tốt, khi có đến 41.9% số người được hỏi cho rằng công đoàn thường xuyên tham gia ký kết HĐLĐ; 28.6% nhận xét là thỉnh thoảng; 6.9% đánh giá là rất thường xuyên. Mức độ nhận xét cũng có sự khác nhau giữa các ngành nghề trong cùng KCN. Chẳng hạn, trong số những người có câu trả lời là “Thường xuyên”, chiếm phần lớn thuộc về đối tượng khảo sát tại nhóm doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất, lắp ráp cơ khí với tỷ lệ 45.9%, so với loại hình doanh nghiệp còn lại là 42.2% và 40.3%. Đối với đáp án “Thỉnh thoảng”, nhóm doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử chiếm tỷ lệ cao hơn, 31.7% so với 25.7% và 23.5%.

Vai trò của Công đoàn trong hướng dẫn, tư vấn giao kết và thực hiện hợp đồng lao động
Thông qua hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động được thiết lập và xác định rõ ràng. Trong ảnh: Công nhân sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty Canon Việt Nam (KCN Bắc Thăng Long, TP. Hà Nội). Ảnh: Duy Linh.

Kết luận và bàn luận

Nhìn chung, trong quá trình ký kết, thực hiện HĐLĐ xét theo các loại hình doanh nghiệp không có sự khác biệt mấy, hầu hết các bên đã cơ bản tuân thủ văn bản đã ký kết, điều này góp phần ổn định về QHLĐ trong doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, CĐCS tại doanh nghiệp đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc giúp đỡ, hướng dẫn NLĐ giao kết HĐLĐ với NSDLĐ, tạo uy tín với tổ chức Công đoàn.

Ký kết Quy chế phối hợp công tác để phát huy hiệu quả vai trò của Công đoàn Ký kết Quy chế phối hợp công tác để phát huy hiệu quả vai trò của Công đoàn

Để phát huy hiệu quả vai trò của tổ chức Công đoàn, Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND tỉnh Thừa ...

Đổi mới các hình thức tập hợp nữ đoàn viên, người lao động Đổi mới các hình thức tập hợp nữ đoàn viên, người lao động

Tổng LĐLĐ Việt Nam vừa tổ chức tọa đàm “Ban Nữ công Công đoàn các cấp với vấn đề chăm lo việc làm, đời sống ...

Trọng tâm của công tác công đoàn trong an toàn, vệ sinh lao động Trọng tâm của công tác công đoàn trong an toàn, vệ sinh lao động

Sau 25 năm thực hiện Bộ luật Lao động, qua hơn 08 năm triển khai Chỉ thị số 29 của Ban Bí thư Trung ương ...

Chia sẻ
In bài viết

Tin cùng chuyên mục

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Emagazine -

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Lợi dụng khó khăn về tài chính của công nhân, lao động (CNLĐ) trong hoàn cảnh dịch bệnh thời gian qua, cùng sự thiếu hiểu biết của người lao động (NLĐ) về các quy định, trình tự vay và cho vay của các tổ chức tín dụng chính thống, tội phạm cho vay “tín dụng đen” (TDĐ) bằng nhiều thủ đoạn, phương thức đã giăng bẫy, lôi kéo NLĐ tham gia vay lãi cao, gây ra những hệ lụy nặng nề. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể trong đó có tổ chức Công đoàn phải có các giải pháp căn cơ, bền vững để hạn chế, tiến tới xóa bỏ loại hình tín dụng bất hợp pháp này trong CNLĐ.

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

Nghiên cứu -

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

“Tín dụng đen” (TDĐ) nói chung, TDĐ trong công nhân lao động (CNLĐ) những năm qua là thực trạng nhức nhối, diễn ra ngày càng trắng trợn, tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích nguyên nhân, nhận diện phương thức hoạt động của TDĐ và kiến nghị một số giải pháp góp phần xóa bỏ vấn nạn này.

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu -

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu này được tiến hành trên 327 đối tượng công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử và 52 nhân viên hành chính văn phòng tại một số nhà máy sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử.

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, ổn định và tiến bộ là một chủ trương lớn mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và quyết tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết này, ngày 20/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt chủ trương của Đảng, các cấp Công đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động hiệu quả thúc đẩy thực hiện quyền của lao động nữ (LĐN).

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Nghiên cứu -

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam từ khi đổi mới. Quan hệ lao động (QHLĐ) do nhiều chủ thể tương tác với nhau thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ: cơ chế hai bên và cơ chế ba bên.

Đọc thêm

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Nghiên cứu -

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Qua một năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02-NQ/TW), LĐLĐ tỉnh Lào Cai đã có nhiều cách làm mới phù hợp với tình hình của địa phương, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động của cấp ủy, chính quyền và các cấp công đoàn, đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Khu vực phi chính thức bao gồm nền kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức. Đây là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh (SXKD) không đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước (không có giấy phép kinh doanh), không có tư cách pháp nhân, thực hiện SXKD ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán, cung cấp hoặc trao đổi. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức”.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Nghiên cứu -

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Đại dịch Covid-19 đặt ra thêm nhiều vấn đề mới cho người lao động (NLĐ) ngành Dệt may và Da giày, các lựa chọn thay thế việc làm tốt bị hạn chế; phụ nữ phải đối mặt với gánh nặng gia tăng trong công việc, quan hệ gia đình; các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tâm thần, bạo lực trên cơ sở giới… Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ hơn những tác động của đại dịch đến NLĐ ngành Dệt may và Da giày.

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Emagazine -

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Do thiếu thông tin về cách tính lương sản phẩm nên một bộ phận cán bộ công đoàn còn khó khăn trong thương lượng để cải thiện lương cho NLĐ.

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Nghiên cứu -

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Với sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn, sự tham gia hưởng ứng tích cực của người sử dụng lao động (NSDLĐ), công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), phong trào đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động (NLĐ) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Nghiên cứu -

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, lực lượng lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp đã mang theo tác phong làm việc chưa có tính kỷ luật cao; hành vi không tuân thủ hệ thống quản lý ATVSLĐ tại nơi làm việc thường xuyên xảy ra. Đây là một vấn đề lớn cần kiên trì quan tâm giải quyết.

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Công đoàn -

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ trên phạm vi cả nước nói chung và tại các đô thị, thành phố lớn nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Bài viết sau đây chỉ ra một số nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại các đô thị, thành phố lớn ở nước ta.

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Kiểm soát tài chính công đoàn là chức năng quan trọng của quản lý tài chính công đoàn với việc thiết lập tổ chức thực hiện trong các cấp công đoàn các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định phù hợp, đảm bảo ngăn ngừa, phát hiện xử lý các rủi ro về tài chính nhằm mục tiêu quản lý tài chính công đoàn chặt chẽ, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu -

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu về đối thoại và thương lượng tập thể (ĐT&TLTT) ý có nghĩa lớn trong quan hệ lao động (QHLĐ) hiện nay - đặc biệt là trong khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI - nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Bài viết dưới đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐT&TLTT tại doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (2020-2022), phản ánh tiếng nói của công đoàn và người lao động (NLĐ) về vấn đề này từ đánh giá của người được khảo sát.

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Việc làm -

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Bài viết làm rõ thực trạng việc làm của người lao động (NLĐ) trước tác động của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho NLĐ, từ đó tạo tiền đề để phục hồi và phát triển nền kinh tế trong thời gian tới.

Xem phiên bản di động