Thứ ba 27/09/2022 22:03
vong-tay-cong-doan

Nghiên cứu khoa học của tổ chức Công đoàn kết quả và một số vấn đề đặt ra

Nghiên cứu - TS. NHẠC PHAN LINH - Phó Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn

Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT ngày 18/9/2015 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn (TLĐ) về “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, hoạt động khoa học và công nghệ của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” sau một thời gian triển khai, đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, cũng đặt ra một số tồn tại, hạn chế, đòi hỏi sớm có giải pháp.
Nghiên cứu khoa học của tổ chức Công đoàn kết quả và một số vấn đề đặt ra
Khảo sát sản phẩm ứng dụng kết quả nghiên cứu sáng tạo về KHCN tại Công ty TNHH Kỹ thuật máy bay (VAECO), TP. Hà Nội. Ảnh: Viện CNCĐ.

1. Kết quả hoạt động khoa học của tổ chức Công đoàn giai đoạn 2015 - 2020

Về số lượng: Trong giai đoạn 2015 - 2020, tổng số nhiệm vụ khoa học công nghệ (KHCN) trong toàn hệ thống Công đoàn về công nhân và công đoàn được thực hiện là 454 hoạt động. Trong đó, đề tài, nhiệm vụ cấp nhà nước là 55 công trình (chiếm 12,1%); cấp TLĐ 114 công trình (25,1%); cấp tỉnh/bộ/ ngành 38 công trình (8,4%); cấp cơ sở 199 công trình (43,8%); nhiệm vụ hợp tác quốc tế là 48 hoạt động (10,6%).

Số lượng công trình, nhiệm vụ KHCN khi tính trung bình theo tổng số nhân lực của các đơn vị có sự chênh lệch lớn. Trong bốn đầu mối KHCN của Công đoàn Việt Nam, Viện Công nhân và Công đoàn có số lượng nhiệm vụ nghiên cứu cao nhất với 3,53 công trình/người. Thứ hai là Trường Đại học Công đoàn với 0,50 công trình/người. Thứ ba là Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động 0,36 công trình/người. Thấp nhất là Trường Đại học Tôn Đức Thắng 0,09 công trình/người.

Về chất lượng: Các nghiên cứu đã tập trung vào một số vấn đề lớn, có tính dự báo, cũng như những vấn đề cụ thể việc làm, tiền lương, đời sống của CNVCLĐ; những vấn đề về mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của các cấp Công đoàn,… Nhiều nội dung, kết quả nghiên cứu đã được từng bước ứng dụng trong thực tiễn, cung cấp căn cứ, dữ liệu cho Đoàn Chủ tịch TLĐ xây dựng, ban hành các chương trình, kế hoạch, chính sách, đề án quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều hành, quản lý của TLĐ.

Tiêu biểu như các nghiên cứu đã cung cấp thông tin góp phần xây dựng ban hành các nghị quyết về chất lượng bữa ăn ca; về nâng cao phúc lợi cho đoàn viên và NLĐ; đề án thí điểm mô hình liên kết công đoàn ngành bán lẻ tại Việt Nam giai đoạn 2021-2023; hướng dẫn đánh giá xếp loại chất lượng hoạt động CĐCS, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở; cung cấp cơ sở khoa học để TLĐ xây dựng kế hoạch phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS; cung cấp tài liệu xây dựng Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XII; cung cấp thông tin, cơ sở lý luận, thực tiễn để TLĐ tham gia sửa đổi Bộ luật Lao động 2019…

Nghiên cứu khoa học của tổ chức Công đoàn kết quả và một số vấn đề đặt ra
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để TLĐ xây dựng kế hoạch phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS. Trong ảnh: Lãnh đạo LĐLĐ TP. Hạ Long (Quảng Ninh) trao quyết định thành lập CĐCS. Ảnh: LĐLĐ TP. Hạ Long.

2. Một số vấn đề đặt ra

Một là, thiếu những nghiên cứu lớn, chuyên sâu về giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn. Các nghiên cứu nhỏ lẻ, rời rạc. Chủ đề nghiên cứu ít tính mới, ít tính sáng tạo. Thiếu các nghiên cứu lớn, dài kỳ, bao quát các vấn đề liên quan đến lao động, việc làm, đời sống của NLĐ, cũng như về vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn. Thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu có độ tin cậy, cập nhật về công nhân, đoàn viên và tổ chức Công đoàn để làm cơ sở cung cấp dữ liệu thứ cấp cho các nghiên cứu, cũng như để đối chứng, so sánh giữa các giai đoạn, giữa các loại hình.

Hai là, nhiều nghiên cứu bị chậm tiến độ. Một số nghiên cứu do Thường trực Đoàn Chủ tịch TLĐ đặt hàng để phục vụ xây dựng chủ trương, chính sách nhưng lại nghiệm thu sau khi đã ban hành chính sách. Một số báo cáo khoa học lớn, cụ thể như các cuộc khảo sát định kỳ hằng năm về tiền lương, việc làm, thu nhập, đời sống của NLĐ và hoạt động của tổ chức Công đoàn không được tổ chức thẩm định về mặt khoa học và tiến hành công bố công khai, dẫn đến những câu hỏi về ý nghĩa của nghiên cứu, cũng như chất lượng nghiên cứu.

Ba là, năng lực cán bộ nghiên cứu khoa học (NCKH) còn hạn chế. Năng lực của một số cán bộ nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu cả về trình độ chuyên môn và phương pháp NCKH. Tổ chức KHCN chưa thường xuyên tổ chức tập huấn về kỹ năng, phương pháp nghiên cứu, tổ chức thực hiện NCKH. Số lượng công bố, chia sẻ kết quả NCKH, kinh nghiệm ứng dụng thực tiễn còn ít.

Bốn là, cơ cấu tổ chức và lực lượng nghiên cứu trong các đơn vị khoa học còn bất cập. Một số đơn vị nghiên cứu có lực lượng chuyên gia, lãnh đạo mỏng (cả cấp đơn vị và cấp phòng); thiếu cán bộ khoa học có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm; đội ngũ kế cận còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, rất thiếu kinh nghiệm… Khó khăn trong tuyển sinh các ngành về lao động, Công đoàn, chất lượng đầu vào thấp, không tuyển được cán bộ nghiên cứu giỏi, cũng là một nguyên nhân đáng kể.

Nghiên cứu khoa học của tổ chức Công đoàn kết quả và một số vấn đề đặt ra
Công nghệ sản xuất tự động hóa được áp dụng ở nhiều công đoạn tại Nhà máy Yoshino Gypsum Việt Nam (Bà Rịa-Vũng Tàu). Ảnh: Trà Ngân.

Năm là, cơ chế, chính sách chưa thực sự khơi dậy tiềm năng, tập hợp trí tuệ nguồn nhân lực KHCN. Hiện nay, chưa có chính sách rõ ràng nhằm khơi dậy tiềm năng, tập hợp trí tuệ của đội ngũ cán bộ và đoàn viên công đoàn trong hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công nhân, Công đoàn. Chưa có các giải thưởng, hình thức khen thưởng về KHCN của tổ chức Công đoàn.

Sáu là, thiếu cơ chế, chính sách, tài chính tăng cường hoạt động khoa học. Số lượng các đề tài, đề án, báo cáo khoa học đặt hàng định kỳ hằng năm duy trì chỉ trên dưới 10 nhiệm vụ cấp TLĐ, với một khoản kinh phí trung bình trong khoảng từ 200 - 300 triệu đồng. Kinh phí ngân sách TLĐ cấp cho hoạt động KHCN hầu như không có sự đầu tư tăng cường mang tính đột phá qua nhiều năm. Mặc dù Nghị quyết 01 cho phép đến 5% ngân sách cho hoạt động nghiên cứu lý KHCN, nhưng lại không được đề cập trong hướng dẫn lập dự toán của các đơn vị, mà chỉ có mục chi về đào tạo, bồi dưỡng.

Bảy là, công tác quản lý khoa học (QLKH) và năng lực cán bộ làm công tác tham mưu, tư vấn, QLKH cấp TLĐ còn nhiều bất cập. Cán bộ làm công tác QLKH còn thiếu, mỏng cả về số lượng, lẫn kinh nghiệm chuyên môn QLKH và trình độ học thuật. Việc đưa chức năng QLKH từ các viện nghiên cứu (vốn có truyền thống, kinh nghiệm và nguồn lực), chuyển về ban chuyên môn TLĐ, làm phát sinh yếu tố không thuận lợi, trong đó có vấn đề xúc tiến các chương trình liên kết, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về KHCN như Bộ KHCN, Bộ Tài chính.., hay với các đầu mối học thuật lớn như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam..; cũng như làm chậm tiến độ đề xuất, triển khai, phát sinh thủ tục phê duyệt, đánh giá, nghiệm thu các sản phẩm nghiên cứu. Đặc biệt là vấn đề hành chính hóa thủ tục quy trình KHCN tác động lớn đến sự chủ động của các tổ chức KHCN trong hoạt động thực tiễn của đơn vị.

Tám là, công tác thông tin, phối hợp, mở rộng sự hợp tác NCKH còn hạn hẹp. Công tác thông tin, báo cáo, phổ biến kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Hoạt động hội nhập quốc tế về KHCN chưa được đẩy mạnh, triển khai thiếu chiều sâu. Điều này dẫn đến có thể làm mất cơ hội tận dụng các nguồn tài trợ, nguồn lực về tài chính, tri thức, kỹ năng, phương pháp khoa học từ các tổ chức quốc tế có uy tín.

Nghiên cứu khoa học của tổ chức Công đoàn kết quả và một số vấn đề đặt ra
Một số nghiên cứu đã tập trung vào những vấn đề cụ thể như việc làm, tiền lương, đời sống của công nhân, NLĐ. Trong ảnh: Cán bộ LĐLĐ TP. Hà Nội trao quà động viên lao động nữ có hoàn cảnh khó khăn tại Công ty TNHH Bình Yên (quận Thanh Xuân, Hà Nội). Ảnh: Diệp Thảo.

Chín là, việc thực hiện chủ trương về NCKH chưa đồng bộ. Nhiều cấp Công đoàn chưa ban hành nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn triển khai Nghị quyết số 01 của Đoàn Chủ tịch TLĐ; chưa có hướng dẫn thực hiện về nguồn lực, kinh phí; định mức, quy định, chỉ tiêu cho từng loại hình đơn vị; thiếu cơ chế đặt hàng giao chỉ tiêu nghiên cứu. Nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành cho rằng NCKH chủ yếu dành cho khối viện, khối trường.

Mười là, có sự chưa thống nhất cách tiếp cận về NCKH và QLKH. Một số nhiệm vụ NCKH được xác định, giao, quản lý, triển khai như một nhiệm vụ chuyên môn của các ban, đơn vị, thiếu tính đặc trưng của một công trình khoa học. Hội đồng khoa học, các hội đồng đánh giá nghiệm thu tập trung nhiều cán bộ quản lý, ít nhà khoa học của tổ chức Công đoàn. Điều này dẫn đến ranh giới mờ nhạt giữa hoạt động nghiên cứu và hoạt động quản lý. Về nguyên tắc, NCKH nhằm cung cấp thông tin khách quan, tin cậy, là nền tảng cho các gợi ý, đề xuất, tư vấn giải pháp từ góc độ học thuật. Việc hoạch định chính sách, xây dựng, ban hành, triển khai các đề án, chương trình, kế hoạch là việc của cơ quan quản lý trên cơ sở thông tin, sản phẩm KHCN đã được cung cấp.

Bên cạnh những vấn đề trên, thời gian gần đây, nhiều chủ trương, nghị quyết mới của Đảng về lĩnh vực KHCN được ban hành, trong đó, đặt ra yêu cầu “quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công nhân, Công đoàn trong tình hình mới”, “thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh KHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”.

Như vậy, xét từ cả góc độ nhu cầu chủ quan và yêu cầu khách quan, TLĐ cần sớm ban hành một nghị quyết mới của Ban Chấp hành TLĐ (Khóa XII) về đẩy mạnh công tác NCKH, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới.

Ký kết Quy chế phối hợp công tác để phát huy hiệu quả vai trò của Công đoàn Ký kết Quy chế phối hợp công tác để phát huy hiệu quả vai trò của Công đoàn

Để phát huy hiệu quả vai trò của tổ chức Công đoàn, Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND tỉnh Thừa ...

Thực hiện Nghị quyết số 20 của Đảng: 5 bài học kinh nghiệm qua 14 năm triển khai Thực hiện Nghị quyết số 20 của Đảng: 5 bài học kinh nghiệm qua 14 năm triển khai

Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 28/01/2008 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam ...

“Cần đổi mới mạnh mẽ, thực chất tổ chức và hoạt động Công đoàn trong tình hình mới” “Cần đổi mới mạnh mẽ, thực chất tổ chức và hoạt động Công đoàn trong tình hình mới”

Đó là nội dung được Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Ngọ Duy Hiểu nhấn mạnh tại Hội nghị quán triệt, triển khai thực ...

Chia sẻ
In bài viết

Tin cùng chuyên mục

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Emagazine -

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Lợi dụng khó khăn về tài chính của công nhân, lao động (CNLĐ) trong hoàn cảnh dịch bệnh thời gian qua, cùng sự thiếu hiểu biết của người lao động (NLĐ) về các quy định, trình tự vay và cho vay của các tổ chức tín dụng chính thống, tội phạm cho vay “tín dụng đen” (TDĐ) bằng nhiều thủ đoạn, phương thức đã giăng bẫy, lôi kéo NLĐ tham gia vay lãi cao, gây ra những hệ lụy nặng nề. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể trong đó có tổ chức Công đoàn phải có các giải pháp căn cơ, bền vững để hạn chế, tiến tới xóa bỏ loại hình tín dụng bất hợp pháp này trong CNLĐ.

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

Nghiên cứu -

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

“Tín dụng đen” (TDĐ) nói chung, TDĐ trong công nhân lao động (CNLĐ) những năm qua là thực trạng nhức nhối, diễn ra ngày càng trắng trợn, tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích nguyên nhân, nhận diện phương thức hoạt động của TDĐ và kiến nghị một số giải pháp góp phần xóa bỏ vấn nạn này.

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu -

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu này được tiến hành trên 327 đối tượng công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử và 52 nhân viên hành chính văn phòng tại một số nhà máy sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử.

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, ổn định và tiến bộ là một chủ trương lớn mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và quyết tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết này, ngày 20/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt chủ trương của Đảng, các cấp Công đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động hiệu quả thúc đẩy thực hiện quyền của lao động nữ (LĐN).

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Nghiên cứu -

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam từ khi đổi mới. Quan hệ lao động (QHLĐ) do nhiều chủ thể tương tác với nhau thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ: cơ chế hai bên và cơ chế ba bên.

Đọc thêm

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Nghiên cứu -

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Qua một năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02-NQ/TW), LĐLĐ tỉnh Lào Cai đã có nhiều cách làm mới phù hợp với tình hình của địa phương, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động của cấp ủy, chính quyền và các cấp công đoàn, đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Khu vực phi chính thức bao gồm nền kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức. Đây là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh (SXKD) không đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước (không có giấy phép kinh doanh), không có tư cách pháp nhân, thực hiện SXKD ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán, cung cấp hoặc trao đổi. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức”.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Nghiên cứu -

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Đại dịch Covid-19 đặt ra thêm nhiều vấn đề mới cho người lao động (NLĐ) ngành Dệt may và Da giày, các lựa chọn thay thế việc làm tốt bị hạn chế; phụ nữ phải đối mặt với gánh nặng gia tăng trong công việc, quan hệ gia đình; các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tâm thần, bạo lực trên cơ sở giới… Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ hơn những tác động của đại dịch đến NLĐ ngành Dệt may và Da giày.

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Emagazine -

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Do thiếu thông tin về cách tính lương sản phẩm nên một bộ phận cán bộ công đoàn còn khó khăn trong thương lượng để cải thiện lương cho NLĐ.

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Nghiên cứu -

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Với sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn, sự tham gia hưởng ứng tích cực của người sử dụng lao động (NSDLĐ), công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), phong trào đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động (NLĐ) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Nghiên cứu -

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, lực lượng lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp đã mang theo tác phong làm việc chưa có tính kỷ luật cao; hành vi không tuân thủ hệ thống quản lý ATVSLĐ tại nơi làm việc thường xuyên xảy ra. Đây là một vấn đề lớn cần kiên trì quan tâm giải quyết.

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Công đoàn -

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ trên phạm vi cả nước nói chung và tại các đô thị, thành phố lớn nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Bài viết sau đây chỉ ra một số nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại các đô thị, thành phố lớn ở nước ta.

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Kiểm soát tài chính công đoàn là chức năng quan trọng của quản lý tài chính công đoàn với việc thiết lập tổ chức thực hiện trong các cấp công đoàn các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định phù hợp, đảm bảo ngăn ngừa, phát hiện xử lý các rủi ro về tài chính nhằm mục tiêu quản lý tài chính công đoàn chặt chẽ, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu -

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu về đối thoại và thương lượng tập thể (ĐT&TLTT) ý có nghĩa lớn trong quan hệ lao động (QHLĐ) hiện nay - đặc biệt là trong khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI - nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Bài viết dưới đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐT&TLTT tại doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (2020-2022), phản ánh tiếng nói của công đoàn và người lao động (NLĐ) về vấn đề này từ đánh giá của người được khảo sát.

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Việc làm -

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Bài viết làm rõ thực trạng việc làm của người lao động (NLĐ) trước tác động của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho NLĐ, từ đó tạo tiền đề để phục hồi và phát triển nền kinh tế trong thời gian tới.

Xem phiên bản di động