Thứ tư 28/09/2022 20:20
vong-tay-cong-doan

Công đoàn góp phần đảm bảo cơ hội việc làm, thu nhập của người lao động

Nghiên cứu - TS. NGUYỄN NGỌC ÂN - ThS. NGUYỄN THỊ BÍCH HỢP TS. ĐẶNG HOÀNG ANH - ThS. TRẦN MẠNH THẮNG - Công đoàn Giáo dục Việt Nam

Giao quyền tự chủ cho các trường đại học công lập là xu thế tất yếu để phát triển giáo dục và hội nhập với quốc tế. Tuy nhiên, tự chủ đại học (TCĐH) cũng chi phối, ảnh hưởng đến công tác điều hành, quản lý và phát triển trường đại học, tác động lớn tới đội ngũ nhà giáo, người lao động (NGNLĐ) trong nhà trường. Do đó, Công đoàn cần thể hiện vai trò trong việc thực hiện chế độ chính sách cho NGNLĐ nhà trường trong bối cảnh mới.
Công đoàn góp phần đảm bảo cơ hội việc làm, thu nhập của người lao động
Công đoàn ngành Giáo dục Việt Nam và Công ty Cổ phần Hỗ trợ Dịch vụ Thanh toán Việt Phú (Movi) ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình Phúc lợi cho cán bộ, công nhân viên và đoàn viên thuộc Công đoàn ngành Giáo dục Việt Nam. Ảnh: Thu Hằng.

TCĐH, cơ hội và thách thức đối với cán bộ, NGNLĐ

Khoản 1, Điều 32 của Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2019 quy định, trong các nội dung về tự chủ thì thành tố tự chủ nguồn nhân lực được coi là quan trọng hàng đầu. Theo đó, trường học được quyết định các vấn đề liên quan đến tiền lương, phúc lợi, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính… NGNLĐ đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức, nguy cơ.

Hiện việc thực hiện giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học nước ta đã và đang từng bước triển khai. Một số nhà trường đã được Chính phủ quyết định cho thực hiện tự chủ hoàn toàn như: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh…

Các trường khác đã xây dựng kế hoạch lộ trình thực hiện tự chủ từng bước, tiến tới tự chủ hoàn toàn. Việc thực hiện tự chủ tại các trường bước đầu giúp giảm bớt các thủ tục hành chính, tăng tính chủ động trong tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà trường và nâng cao chất lượng đào tạo.

Khi một số trường đại học thực hiện tự chủ, Công đoàn trường đã tích cực tham gia quản lý thông qua các hoạt động như xây dựng và ban hành các văn bản quy định, quy chế nội bộ; tham gia các hội đồng có liên quan đến NGNLĐ; tuyên truyền, vận động NGNLĐ nhận thức đúng về tự chủ đại học, đồng thuận với những chủ trương của nhà trường, chia sẻ những khó khăn cùng với nhà trường trong giai đoạn đầu khi thực hiện tự chủ; chủ động tham mưu phân phối thu nhập của NGNLĐ phù hợp; tham mưu bồi dưỡng, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và phát triển chương trình đào tạo theo xu thế hội nhập, góp phần phát triển nhà trường bền vững, thu nhập của NGNLĐ trong trường tăng…

Tuy nhiên, trong quá trình tự chủ, cơ hội việc làm và đảm bảo thu nhập càng trở thành vấn đề cần quan tâm đối với các nhà trường. Làm thế nào để tăng cơ hội việc làm, đảm bảo cân đối việc làm cho NLĐ phù hợp với chuyên môn, nghề nghiệp của họ? Làm thế nào để thu nhập của NLĐ trong trường tăng, đời sống tốt hơn so với khi chưa thực hiện tự chủ? Làm thế nào để giảm bớt sự chênh lệch thu nhập giữa các giảng viên và NLĐ trong nhà trường, nhất là cán bộ trẻ? Đây là vấn đề tổ chức Công đoàn cần phải có giải pháp để thực hiện theo chức năng của mình.

Công đoàn góp phần đảm bảo cơ hội việc làm, thu nhập của người lao động
Hội thảo “Tự chủ trong các Trường Đại học Y dược - Vai trò của Công đoàn” do Công đoàn Y tế Việt Nam tổ chức. Ảnh: CĐYT Việt Nam.

Giải pháp đảm bảo sự công bằng trong cơ hội việc làm, thu nhập của NLĐ

1, Công đoàn tham gia quản lý

Chủ động phối hợp trong việc hoạch định, xây dựng, triển khai chiến lược, đề án, chương trình, kế hoạch phát triển nhà trường trong thực hiện nhiệm vụ chính trị; phối hợp tích cực trong lộ trình thực hiện tự chủ đại học, đổi mới đào tạo và quản trị nhà trường… đồng thời giám sát việc tổ chức triển khai.

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật mang tính quy định khung, Công đoàn trường chủ động tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến và thể hiện rõ quan điểm trong văn bản, quy chế, quy định nội bộ của trường như Quy chế tổ chức hoạt động; Quy chế về công tác cán bộ; Quy chế chi tiêu nội bộ…

Trong quá trình xây dựng văn bản, ở tất cả các khâu, Công đoàn trường phải tham gia một cách chủ động, lưu ý tới những nội dung liên quan về việc làm, thu nhập và đãi ngộ NGNLĐ. Khi có những vấn đề chưa thống nhất, những vấn đề liên quan đến quyền lợi của NGNLĐ, những vấn đề cần cân đối hài hòa chế độ chính sách, quyền lợi đối với NGNLĐ, Công đoàn đề xuất phương án giải quyết, gặp gỡ, trao đổi nắm tâm tư, nguyện vọng cũng như giải thích, làm công tác tư tưởng để NLĐ hiểu và đồng thuận. Đồng thời giám sát việc thực hiện các văn bản nội bộ, nắm tình hình phát hiện vấn đề phát sinh và đề xuất với lãnh đạo trường có phương án giải quyết kịp thời và phù hợp.

Công đoàn tham gia các hội đồng như: Hội đồng Chế độ chính sách; Hội đồng lương; Hội đồng tuyển dụng; Hội đồng khen thưởng, kỷ luật… và thể hiện rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong các hoạt động, có quan điểm, ý kiến cụ thể, rõ ràng để nói lên tiếng nói đại diện cho đội ngũ cán bộ, NGNLĐ.

2. Tham gia xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong nhà trường

Công đoàn trường chủ động tham gia ở tất cả các khâu, như đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tổ chức để NGNLĐ được tham gia góp ý; giám sát, đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức Hội nghị cán bộ viên chức theo đúng quy định… đảm bảo phát huy cao nhất quyền làm chủ của NGNLĐ trong xây dựng và phát triển nhà trường cũng như đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ.

Trong cơ chế tự chủ, việc thực hiện đối thoại và trách nhiệm giải trình cần được Công đoàn tham mưu tổ chức đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch. Kịp thời nắm bắt, phát hiện vấn đề mất dân chủ, đề xuất giải pháp giải quyết các tình huống phát sinh kịp thời, tạo được sự đồng thuận trong NGNLĐ.

Công đoàn góp phần đảm bảo cơ hội việc làm, thu nhập của người lao động
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là một trong những trường đã được Chính phủ quyết định cho thực hiện tự chủ hoàn toàn. Ảnh: HUST.

3. Tham gia nghiên cứu, xây dựng, triển khai, theo dõi và phản hồi để điều chỉnh các quy định, quy chế chi tiêu nội bộ

Chủ động tham gia vào quy trình xây dựng và ban hành. Chủ tịch Công đoàn trường tham gia Hội đồng trường ra chủ trương xây dựng, ban hành các quy chế nội bộ như: Quy chế tổ chức, hoạt động; Quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế khen thưởng…

Bộ phận xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ có thành phần là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch công đoàn trường với vai trò là Phó ban. Công đoàn phối hợp với chuyên môn dự thảo, gửi xin ý kiến tất cả NGNLĐ và các đơn vị trong nhà trường; tổng hợp ý kiến, chỉnh sửa và đề xuất các giải pháp đảm bảo sự cân đối trong toàn trường, báo cáo tại Hội nghị cán bộ, viên chức và chỉnh sửa ban hành.

Tham gia vào đề xuất, chỉnh sửa nội dung các mức và hệ số hưởng thu nhập tăng thêm đảm bảo cân đối trong toàn trường. Lưu ý việc điều chỉnh tỷ lệ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác cùng với nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, công bố quốc tế đảm bảo đúng quy định, sát với tình hình thực tiễn của nhà trường.

Đề xuất trả tiền vượt giờ cho giảng viên và có giải pháp về mức giờ vượt để không tạo sự mất cấn đối quá lớn đối với các giảng viên trong cùng chuyên ngành và bộ môn.

Tham mưu xây dựng quỹ bình ổn của nhà trường để phân phối lại thu nhập và đảm bảo tích lũy; giải thích, động viên cán bộ, NGNLĐ hiểu, nhất trí. Hằng tháng, cán bộ trẻ có mức thu nhập thấp được hưởng thêm một khoản tăng thêm để hỗ trợ một phần thu nhập.

4. Tham gia tạo cơ hội việc làm, nâng cao năng lực cho NGNLĐ

Chủ động phối hợp trong xây dựng vị trí việc làm đảm bảo quyền lợi cho NGNLĐ phù hợp với tình hình mới. Phối hợp với chuyên môn đồng cấp chuyển đổi ngành nghề, mở ngành mới, trình độ đào tạo mới, tạo hướng mở cho giảng viên giảng môn liên ngành đối với những người có số giờ giảng ít; tạo điều kiện và vận động giảng viên học thêm, để có đủ khả năng và bố trí giảng dạy ở những chuyên ngành gần, tạo thêm cơ hội việc làm cho giảng viên; tổ chức giao lưu, tìm kiếm đề tài, các hợp đồng sản xuất, hợp đồng giảng dạy cho các doanh nghiệp, đơn vị ngoài trường… mang lại công việc và nguồn thu cho NLĐ; thành lập các nhóm nghiên cứu khoa học để thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm… đề xuất khen thưởng xứng đáng cho những giảng viên có các bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín, góp phần tăng thêm thu nhập và nâng cao năng lực cho NGNLĐ.

Đối với khối nhân viên hành chính, để tránh dư thừa, công đoàn trường vận động NLĐ tự nguyện chuyển sang vị trí khác như điều chuyển một phần về các khoa. NLĐ nghỉ hưu thì không tuyển thêm mà sắp xếp dần số lao động dôi dư phù hợp.

Công đoàn góp phần đảm bảo cơ hội việc làm, thu nhập của người lao động
Công đoàn chủ động tham mưu bồi dưỡng, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong ảnh: Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức. Ảnh: Đại học Kinh tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Công đoàn Giáo dục Việt Nam (2021), Tài liệu Hội thảo “Vai trò của Chủ tịch công đoàn trong Hội đồng trường”.

2. Chính phủ (2019), Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

3. Quốc hội (2012), Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 ngày 18/6/2012.

4. Quốc hội (2018), Luật 34/2018/QH14, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, ngày 19/11/2018.

5. Lê Đức Ngọc, Phạm Hương Thảo (2016), Đảm bảo thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu giáo dục, Tập 32 số 3 (2016), Hà Nội.

6. Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng (2020), Báo cáo Hội thảo giáo dục Việt Nam năm 2020 “Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ chính sách đến thực tiễn” quyển 1, quyển 2.

Công đoàn Thủ đô vận động đoàn viên, người lao động ưu tiên dùng hàng Việt Nam Công đoàn Thủ đô vận động đoàn viên, người lao động ưu tiên dùng hàng Việt Nam

Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội vừa ký ban hành Kế hoạch số 05/KH-LĐLĐ về triển khai thực hiện Cuộc vận động “Người ...

Công đoàn tích cực đàm phán, Công ty TNHH Viet Glory đồng ý tăng 6% lương cơ bản Công đoàn tích cực đàm phán, Công ty TNHH Viet Glory đồng ý tăng 6% lương cơ bản

Sáng 12/2, đoàn công tác của LĐLĐ tỉnh Nghệ An do đồng chí Nguyễn Chí Công - Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh làm trưởng đoàn ...

Thừa Thiên Huế: Phấn đấu giải quyết việc làm cho 16.300 lao động trong năm 2022 Thừa Thiên Huế: Phấn đấu giải quyết việc làm cho 16.300 lao động trong năm 2022

Thừa Thiên Huế sẽ tập trung hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho người lao động, phấn đấu ...

Chia sẻ
In bài viết

Tin cùng chuyên mục

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Emagazine -

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Lợi dụng khó khăn về tài chính của công nhân, lao động (CNLĐ) trong hoàn cảnh dịch bệnh thời gian qua, cùng sự thiếu hiểu biết của người lao động (NLĐ) về các quy định, trình tự vay và cho vay của các tổ chức tín dụng chính thống, tội phạm cho vay “tín dụng đen” (TDĐ) bằng nhiều thủ đoạn, phương thức đã giăng bẫy, lôi kéo NLĐ tham gia vay lãi cao, gây ra những hệ lụy nặng nề. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể trong đó có tổ chức Công đoàn phải có các giải pháp căn cơ, bền vững để hạn chế, tiến tới xóa bỏ loại hình tín dụng bất hợp pháp này trong CNLĐ.

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

Nghiên cứu -

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

“Tín dụng đen” (TDĐ) nói chung, TDĐ trong công nhân lao động (CNLĐ) những năm qua là thực trạng nhức nhối, diễn ra ngày càng trắng trợn, tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích nguyên nhân, nhận diện phương thức hoạt động của TDĐ và kiến nghị một số giải pháp góp phần xóa bỏ vấn nạn này.

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu -

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu này được tiến hành trên 327 đối tượng công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử và 52 nhân viên hành chính văn phòng tại một số nhà máy sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử.

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, ổn định và tiến bộ là một chủ trương lớn mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và quyết tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết này, ngày 20/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt chủ trương của Đảng, các cấp Công đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động hiệu quả thúc đẩy thực hiện quyền của lao động nữ (LĐN).

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Nghiên cứu -

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam từ khi đổi mới. Quan hệ lao động (QHLĐ) do nhiều chủ thể tương tác với nhau thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ: cơ chế hai bên và cơ chế ba bên.

Đọc thêm

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Nghiên cứu -

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Qua một năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02-NQ/TW), LĐLĐ tỉnh Lào Cai đã có nhiều cách làm mới phù hợp với tình hình của địa phương, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động của cấp ủy, chính quyền và các cấp công đoàn, đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Khu vực phi chính thức bao gồm nền kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức. Đây là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh (SXKD) không đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước (không có giấy phép kinh doanh), không có tư cách pháp nhân, thực hiện SXKD ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán, cung cấp hoặc trao đổi. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức”.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Nghiên cứu -

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Đại dịch Covid-19 đặt ra thêm nhiều vấn đề mới cho người lao động (NLĐ) ngành Dệt may và Da giày, các lựa chọn thay thế việc làm tốt bị hạn chế; phụ nữ phải đối mặt với gánh nặng gia tăng trong công việc, quan hệ gia đình; các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tâm thần, bạo lực trên cơ sở giới… Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ hơn những tác động của đại dịch đến NLĐ ngành Dệt may và Da giày.

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Emagazine -

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Do thiếu thông tin về cách tính lương sản phẩm nên một bộ phận cán bộ công đoàn còn khó khăn trong thương lượng để cải thiện lương cho NLĐ.

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Nghiên cứu -

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Với sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn, sự tham gia hưởng ứng tích cực của người sử dụng lao động (NSDLĐ), công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), phong trào đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động (NLĐ) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Nghiên cứu -

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, lực lượng lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp đã mang theo tác phong làm việc chưa có tính kỷ luật cao; hành vi không tuân thủ hệ thống quản lý ATVSLĐ tại nơi làm việc thường xuyên xảy ra. Đây là một vấn đề lớn cần kiên trì quan tâm giải quyết.

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Công đoàn -

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ trên phạm vi cả nước nói chung và tại các đô thị, thành phố lớn nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Bài viết sau đây chỉ ra một số nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại các đô thị, thành phố lớn ở nước ta.

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Kiểm soát tài chính công đoàn là chức năng quan trọng của quản lý tài chính công đoàn với việc thiết lập tổ chức thực hiện trong các cấp công đoàn các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định phù hợp, đảm bảo ngăn ngừa, phát hiện xử lý các rủi ro về tài chính nhằm mục tiêu quản lý tài chính công đoàn chặt chẽ, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu -

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu về đối thoại và thương lượng tập thể (ĐT&TLTT) ý có nghĩa lớn trong quan hệ lao động (QHLĐ) hiện nay - đặc biệt là trong khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI - nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Bài viết dưới đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐT&TLTT tại doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (2020-2022), phản ánh tiếng nói của công đoàn và người lao động (NLĐ) về vấn đề này từ đánh giá của người được khảo sát.

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Việc làm -

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Bài viết làm rõ thực trạng việc làm của người lao động (NLĐ) trước tác động của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho NLĐ, từ đó tạo tiền đề để phục hồi và phát triển nền kinh tế trong thời gian tới.

Xem phiên bản di động