Thứ tư 28/09/2022 20:01
vong-tay-cong-doan

Tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI Đồng bằng sông Hồng

Nghiên cứu - PGS. TS. NGUYỄN SỸ TRUNG - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm 11 tỉnh và thành phố, trong đó có Thủ đô Hà Nội, chiếm 6,3% diện tích và 23,7% dân số cả nước, có tiềm năng, lợi thế to lớn, vượt trội so với nhiều vùng kinh tế khác, nhất là trong thu hút nguồn vốn FDI. Tuy nhiên, thời gian qua, đại dịch Covid-19 đã khiến hàng trăm nghìn công nhân lao động (CNLĐ) rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, tiền lương, thu nhập bị giảm sút... gây áp lực mạnh đến công tác bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) và mục tiêu phát triển bền vững của vùng.
Tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI Đồng bằng sông Hồng

Lãnh đạo Công ty TNHH May TexHong Thái Bình trao đổi tình hình công việc với công nhân trong giờ làm. Nguồn: baothaibinh.com.vn

Những tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH

Đại dịch Covid-19 gây khó khăn to lớn cho hoạt động kinh tế của doanh nghiệp và đời sống công nhân. Tính từ đầu năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-19 đã trải qua 4 đợt, đợt sau nghiêm trọng hơn đợt trước. Hầu hết các tỉnh trong khu vực ĐBSH đều bị dịch Covid-19 xâm nhập. Nhiều doanh nghiệp FDI bị đình trệ sản xuất, kinh doanh (SXKD), thậm chí phá sản...

Việc phục hồi SXKD của các doanh nghiệp FDI ở khu vực ĐBSH sau dịch được dự báo phải mất rất nhiều thời gian và còn gặp khó khăn lớn, khả năng phục hồi cũng có xu hướng chậm lại. Kéo theo là việc hàng trăm nghìn CNLĐ bị ảnh hưởng về việc làm, đời sống, thu nhập, tạo áp lực lớn về ASXH lên chính quyền các địa phương.

Việc đóng nộp bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho công nhân có nơi bị chậm, nhiều doanh nghiệp phải tạm hoãn, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều CNLĐ. Phần lớn số nợ BHXH, BHYT, BHTN của các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là nợ khó đòi, do các doanh nghiệp đã giải thể, mất tích, chủ doanh nghiệp bỏ trốn.

Cùng với đó, số lượng công nhân tham gia BHXH, BHYT, BHTN ở các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH cũng giảm mạnh. Điều đó đồng nghĩa với việc những NLĐ này khi đến tuổi về hưu sẽ không có thu nhập hằng tháng từ lương hưu để bảo đảm cuộc sống, không được cấp thẻ BHYT miễn phí để chăm sóc sức khỏe. Việc nhiều công nhân đăng ký nhận BHXH một lần là thực trạng đáng lo ngại, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ, mà còn làm ảnh hưởng tới tình hình kinh tế - xã hội, cũng như việc bảo đảm ASXH.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI Đồng bằng sông Hồng

Cán bộ Công đoàn các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ công nhân thuê trọ bị cách ly tại huyện Thuận Thành, tháng 5/2021. Ảnh: N. Quyết

Đại dịch Covid-19 còn làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng giới trong việc làm và thu nhập của công nhân. Lao động nữ các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH dễ bị cho nghỉ việc hơn lao động nam, nhiều chủ doanh nghiệp ưu tiên công nhân nam hơn trong trường hợp doanh nghiệp ít việc. Tổng số thời giờ làm việc của công nhân các doanh nghiệp FDI cũng sụt giảm đáng kể, trong đó công nhân nữ là đối tượng phải chịu tổn thất về thời giờ làm việc nặng nề hơn so với đồng nghiệp nam. Thu nhập bình quân của công nhân nữ cũng bị giảm sút.

Công tác chăm sóc sức khỏe của NLĐ các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH bị ảnh hưởng tiêu cực. Dịch bệnh ngoài tác động trực tiếp đến sức khỏe công nhân còn làm đảo lộn hệ thống y tế bảo vệ sức khỏe cộng đồng của các địa phương trong vùng, hệ thống khám và chữa bệnh quá tải, có nơi không đáp ứng được yêu cầu. Việc chăm sóc sức khỏe cho công nhân trong các doanh nghiệp không được thực hiện đầy đủ.

Mức độ lây lan của dịch bệnh còn gây ra tâm lý xã hội tiêu cực, đã hình thành thái độ phân biệt, kỳ thị giữa những công nhân các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH bị mắc Covid với những công nhân khác, hoặc giữa cộng đồng xã hội với công nhân ở những doanh nghiệp bị dịch xâm nhập. Đã có những trường hợp rất cực đoan như không cho công nhân thuê nhà trọ, không giao lưu tiếp xúc với công nhân...

Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp FDI trong vùng ĐBSH chịu tác động sâu sắc của đại dịch Covid -19, đã có tình trạng công nhân ở một số địa phương trong vùng bị lôi kéo, kích động tụ tập đông người gây áp lực với doanh nghiệp, hoặc đình công, nghỉ việc tập thể, bị lôi cuốn vào các tệ nạn, càng gây cho doanh nghiệp rất nhiều khó khăn, thiệt hại trong tổ chức sản xuất, kinh đoanh, địa phương thì vất vả trong ổn định an ninh, trật tự, đảm bảo ASXH.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI Đồng bằng sông Hồng

Công nhân sản xuất xe máy tại Công ty TNHH Piaggio Việt Nam (Vĩnh Phúc). Ảnh: Trà Hương.

Một số vấn đề đặt ra trước tác động của đại dịch Covid-19 đối với công nhân các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH hiện nay

Một là, cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phòng, chống dịch Covid-19 với hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, ổn định đời sống công nhân, bảo đảm ASXH. Đây là yêu cầu được đặt ra từ rất sớm, đến nay vẫn là vấn đề cấp bách.

Trong bối cảnh rất nhiều khó khăn, Đảng, Nhà nước, các địa phương, các tổ chức chính tri, xã hội, nhất là tổ chức Công đoàn đã kịp thời có nhiều giải pháp hỗ trợ CNLĐ và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây chỉ là những biện pháp mang tính sách lược, trước mắt. Cần chuẩn bị các kịch bản cụ thể, các giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phòng, chống dịch Covid-19 với hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, ổn định đời sống công nhân, bảo đảm ASXH.

Hai là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị, xã hội ở địa phương, đặc biệt là công đoàn tại các doanh nghiệp FDI trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công nhân.

Phát huy thành tựu đã đạt được trong việc chăm lo đời sống công nhân, kịp thời giải quyết những khó khăn mà NLĐ gặp phải, ổn định đời sống xã hội, an ninh trật tự và sự phát triển của địa phương, doanh nghiệp. Khắc phục tình trạng ở nhiều nơi, quyền lợi chính đáng của công nhân vẫn bị vi phạm. Các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và công đoàn trong doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH cần tăng cường phối hợp, đồng hành, hỗ trợ và bảo vệ các quyền lợi chính đáng của công nhân về đóng BHXH, BHYT, BHTN, bảo vệ quyền được khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe đầy đủ do dịch Covid-19 gây ra, bảo vệ quyền được làm việc, chống sa thải công nhân nhiều tuổi, công nhân nữ có thai, nuôi con nhỏ; khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới đối với công nhân nữ để tạo việc làm ổn định cho chị em, nâng cao thu nhập ổn định cuộc sống gia đình. Làm tốt công tác tuyên truyền, tư vấn pháp luật nâng cao nhận thức, hiểu biết của NLĐ về Bộ luật Lao động, Luật BHXH, Luật BHYT, thương lượng, đối thoại giữa công nhân với người sử dụng lao động để tạo sự đồng thuận giữa các bên. Khởi kiện những doanh nghiệp vi phạm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công nhân.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến công nhân các doanh nghiệp FDI Đồng bằng sông Hồng

Lãnh đạo LĐLĐ TP. Hà Nội Nguyễn Phi Thường (thứ 2 từ phải sang) thăm, tặng quà gia đình công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Mai Quý

Ba là, nâng cao vai trò của công tác truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức chính trị cho công nhân khu vực FDI vùng ĐBSH; tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Y tế, tổ chức Công đoàn... về phòng, chống Covid-19. Đẩy lùi sự phân biệt, kỳ thị, ổn định tâm lý, tư tưởng công nhân. Không để CNLĐ hoang mang, dao động về tư tưởng, lo lắng thái quá. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa cấp ủy, chính quyền các địa phương và các doanh nghiệp trong khu vực với các cơ quan báo, đài ở Trung ương và địa phương tổ chức các hình thức tuyên truyền đa dạng đến từng công nhân trong các phân xưởng, nhà máy. Phát huy thế mạnh các mạng lưới xã hội, vai trò của cộng đồng và gia đình công nhân; có chế tài xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm, ổn định tâm lý, tư tưởng công nhân để họ yên tâm sản xuất.

Đại dịch Covid-19 là một ví dụ điển hình về mặt trái của quá trình hội nhập quốc tế, nó gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Song, cũng chính từ thử thách khắc nghiệt này đã cho thấy khả năng thích ứng nhanh chóng của nước ta nói chung và các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH nói riêng. Những tác động về chính trị - xã hội đối với công nhân trong các doanh nghiệp FDI vùng ĐBSH và một số vấn đề đặt ra trên đây là một gợi ý quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn cho điều đó.

Giải quyết vấn đề di cư lao động ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Giải quyết vấn đề di cư lao động ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

Thời gian qua, tình trạng di cư lao động (DCLĐ) ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày càng diễn biến phức tạp, có ...

Doanh nghiệp Việt tái định hình ngành bán lẻ nhu yếu phẩm sau đại dịch Doanh nghiệp Việt tái định hình ngành bán lẻ nhu yếu phẩm sau đại dịch

Trong bối cảnh dịch bệnh, nhu yếu phẩm trở thành mặt hàng được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn, đặc biệt trên kênh online. ...

Lan toả ý nghĩa của việc trồng cây đến từng cơ quan, doanh nghiệp, người lao động Lan toả ý nghĩa của việc trồng cây đến từng cơ quan, doanh nghiệp, người lao động

Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Nguyễn Đình Khang kêu gọi các đơn vị, doanh nghiệp, công nhân lao động chung tay hưởng ứng “Tết ...

Chia sẻ
In bài viết

Tin cùng chuyên mục

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Emagazine -

Năm giải pháp để hạn chế “tín dụng đen” tại địa bàn khu công nghiệp

Lợi dụng khó khăn về tài chính của công nhân, lao động (CNLĐ) trong hoàn cảnh dịch bệnh thời gian qua, cùng sự thiếu hiểu biết của người lao động (NLĐ) về các quy định, trình tự vay và cho vay của các tổ chức tín dụng chính thống, tội phạm cho vay “tín dụng đen” (TDĐ) bằng nhiều thủ đoạn, phương thức đã giăng bẫy, lôi kéo NLĐ tham gia vay lãi cao, gây ra những hệ lụy nặng nề. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể trong đó có tổ chức Công đoàn phải có các giải pháp căn cơ, bền vững để hạn chế, tiến tới xóa bỏ loại hình tín dụng bất hợp pháp này trong CNLĐ.

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

Nghiên cứu -

Nhận diện phương thức hoạt động “tín dụng đen” trong công nhân lao động

“Tín dụng đen” (TDĐ) nói chung, TDĐ trong công nhân lao động (CNLĐ) những năm qua là thực trạng nhức nhối, diễn ra ngày càng trắng trợn, tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích nguyên nhân, nhận diện phương thức hoạt động của TDĐ và kiến nghị một số giải pháp góp phần xóa bỏ vấn nạn này.

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu -

Stress nghề nghiệp đối với lao động ngành linh kiện điện tử

Nghiên cứu này được tiến hành trên 327 đối tượng công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử và 52 nhân viên hành chính văn phòng tại một số nhà máy sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử.

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Vai trò của công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, ổn định và tiến bộ là một chủ trương lớn mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và quyết tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Nghiên cứu -

Thúc đẩy hơn nữa quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp

Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết này, ngày 20/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Quán triệt chủ trương của Đảng, các cấp Công đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động hiệu quả thúc đẩy thực hiện quyền của lao động nữ (LĐN).

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Nghiên cứu -

Quan hệ lao động: Những vấn đề mới và một số khuyến nghị

Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam từ khi đổi mới. Quan hệ lao động (QHLĐ) do nhiều chủ thể tương tác với nhau thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ: cơ chế hai bên và cơ chế ba bên.

Đọc thêm

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Nghiên cứu -

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ở Lào Cai: Cả hệ thống chính trị vào cuộc

Qua một năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02-NQ/TW), LĐLĐ tỉnh Lào Cai đã có nhiều cách làm mới phù hợp với tình hình của địa phương, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động của cấp ủy, chính quyền và các cấp công đoàn, đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nhu cầu đại diện bảo vệ của lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Khu vực phi chính thức bao gồm nền kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức. Đây là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh (SXKD) không đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước (không có giấy phép kinh doanh), không có tư cách pháp nhân, thực hiện SXKD ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán, cung cấp hoặc trao đổi. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức”.

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Nghiên cứu -

Tác động của đại dịch Covid-19 đến lao động ngành Dệt may, Da giày

Đại dịch Covid-19 đặt ra thêm nhiều vấn đề mới cho người lao động (NLĐ) ngành Dệt may và Da giày, các lựa chọn thay thế việc làm tốt bị hạn chế; phụ nữ phải đối mặt với gánh nặng gia tăng trong công việc, quan hệ gia đình; các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tâm thần, bạo lực trên cơ sở giới… Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ hơn những tác động của đại dịch đến NLĐ ngành Dệt may và Da giày.

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Emagazine -

Hiểu về lương sản phẩm để thương lượng cải thiện lương cho NLĐ

Do thiếu thông tin về cách tính lương sản phẩm nên một bộ phận cán bộ công đoàn còn khó khăn trong thương lượng để cải thiện lương cho NLĐ.

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Nghiên cứu -

Thúc đẩy cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho người lao động

Với sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn, sự tham gia hưởng ứng tích cực của người sử dụng lao động (NSDLĐ), công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), phong trào đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động (NLĐ) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Nghiên cứu -

Công nhân ngành Xây dựng: Cần quan tâm chương trình hành vi an toàn

Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, lực lượng lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp đã mang theo tác phong làm việc chưa có tính kỷ luật cao; hành vi không tuân thủ hệ thống quản lý ATVSLĐ tại nơi làm việc thường xuyên xảy ra. Đây là một vấn đề lớn cần kiên trì quan tâm giải quyết.

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Công đoàn -

3 nguyên nhân, 4 giải pháp cho công tác phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị

Trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ trên phạm vi cả nước nói chung và tại các đô thị, thành phố lớn nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Bài viết sau đây chỉ ra một số nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại các đô thị, thành phố lớn ở nước ta.

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Nghiên cứu -

Nội dung kiểm soát tài chính công đoàn tại CĐCS ở Việt Nam

Kiểm soát tài chính công đoàn là chức năng quan trọng của quản lý tài chính công đoàn với việc thiết lập tổ chức thực hiện trong các cấp công đoàn các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định phù hợp, đảm bảo ngăn ngừa, phát hiện xử lý các rủi ro về tài chính nhằm mục tiêu quản lý tài chính công đoàn chặt chẽ, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu -

Cơ chế nâng cao tiếng nói của người lao động và công đoàn

Nghiên cứu về đối thoại và thương lượng tập thể (ĐT&TLTT) ý có nghĩa lớn trong quan hệ lao động (QHLĐ) hiện nay - đặc biệt là trong khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI - nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Bài viết dưới đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐT&TLTT tại doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (2020-2022), phản ánh tiếng nói của công đoàn và người lao động (NLĐ) về vấn đề này từ đánh giá của người được khảo sát.

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Việc làm -

Việc làm của NLĐ do ảnh hưởng đại dịch: Những đề xuẩt và giải pháp

Bài viết làm rõ thực trạng việc làm của người lao động (NLĐ) trước tác động của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho NLĐ, từ đó tạo tiền đề để phục hồi và phát triển nền kinh tế trong thời gian tới.

Xem phiên bản di động